Growth study - Linkedin - Cỗ máy tăng trưởng không ngừng nghỉ | Growth study - Linkedin - Cỗ máy tăng trưởng không ngừng nghỉ |

Growth study – Linkedin – Cỗ máy tăng trưởng không ngừng nghỉ

1587

Năm 2002, Reid Hoffman tập hợp những người đồng nghiệp cũ tại SocialNet và Paypal để thực hiện một ý tưởng mới – mạng xã hội cho phép các chuyên gia kết nối với nhau. Ý tưởng về một mạng xã hội dành cho các chuyên gia được Hoffman lấy cảm hứng từ một mô hình tương tự mang tên Six Degrees, từng nổi đình nổi đám vào cuối những năm 90 và ngưng hoạt động sau đó trước sự bùng nổ của internet vào năm 2000.

Chỉ sau 6 tháng, vào ngày 5/5/2003, Linkedin chính thức đi vào hoạt động. Sau tuần đầu tiên, lượng người dùng đã lên tới gần 12,5 nghìn. Mặc dù vậy, theo như số liệu từ chính công ty, sự tăng trưởng của Linkedin ban đầu khá chậm chạp, có những ngày chỉ đạt 20 người đăng ký.

Thế nhưng, trong 4 tháng, Linkedin đạt cột mốc 50,000 người dùng, nhận được khoản đầu tư 4,7 triệu USD từ Sequoia Capital trong vòng huy động vốn đầu tiên. Một năm kể từ ngày đi vào hoạt động, con số người dùng đã lên tới 500,000. Năm 2006, tức 3 năm kể từ ngày đi vào hoạt động, Linkedin bắt đầu sinh lãi. Năm 2011, tức 8 năm kể từ ngày đi vào hoạt động, Linkedin chính thức trở thành publicly traded company – công ty đại chúng.

Xuất phát điểm với vỏn vẹn 20 người dùng, làm thế nào để Linkedin đạt vị thế như ngày nay – một công ty đại chúng với quy mô gần 18 tỉ USD, 4800 nhân viên và một mạng lưới 225 triệu người dùng xuyên suốt 200 quốc gia?

1. Linkedin – Ra đời từ một nhu cầu

Khi Linkedin đi vào hoạt động vào năm 2003, các mạng xã hội trực tuyến là một nơi tuyệt vời để hẹn hò và kết nối với bạn bè, nhưng chẳng mấy hiệu quả cho những người làm kinh doanh gặp gỡ nhau. Konstantin Guericke, nhà đồng sáng lập Linkedin giải thích:

“Có một sự mất cân bằng giữa ứng viên và nhà tuyển dụng, giữa nhà đầu tư và các công ty tìm kiếm nguồn vốn. Vì thế, những người này trở nên rất cẩn trọng và chỉ kết nối với người khác thông qua các mối quan hệ mà họ tin tưởng”

Trong thế giới kinh doanh, dù là tìm kiếm việc làm, tìm kiếm ứng viên hay đối tác kinh doanh, các nhà kinh doanh đều mong muốn có được những lời giới thiệu (referral) chất lượng tốt. Nhưng những lời giới thiệu như vậy không dễ gì mà có được, nhất là khi chúng ta không có cách nào để biết những người chúng ta quen biết còn quen biết những ai nữa. Linkedin đã tận dụng lý thuyết chia rẽ 6 cấp độ (6 degrees of separation) giúp người làm kinh doanh tìm kiếm đối tác dựa trên cơ chế referral. Lý thuyết này cho rằng, một người sẽ phải gặp 6 người khác trước khi họ gặp được người mà họ muốn gặp.

Dựa trên concept của Six Degrees, thế nhưng Linkedin đã tạo nên sự khác biệt cho mình so với “bậc tiền bối” cũng như các mạng xã hội phổ biến vào thời gian đó. Thay vì cho phép người dùng chủ động kết nối với bất kì ai (như cái cách hoạt động của Friendster, một mạng xã hội phổ biến thời đó), người dùng Linkedin chỉ được kết nối với những người mà họ quen biết ngoài đời, hoặc được một người khác trong cùng network giới thiệu cho.

Hệ thống kết nối được kiểm soát này giúp hạn chế những lời mời “rác”, không được chọn lọc, khiến Linkedin trở thành một nơi an toàn cho các executive (như Marc Andreessen, Jerry Yang, và Pierre Omidyar) có thể tham gia mà không lo lắng bị ngập lụt bởi những yêu cầu kết bạn vô thưởng vô phạt, đồng thời vẫn cho phép người dùng giới thiệu nhau trong cùng mạng lưới quan hệ.

Những khó khăn ban đầu

Khởi đầu của Linkedin không phải là con đường trải hoa hồng. Hoffman sử dụng cụm từ “dot-com winter” (mùa đông.com) để mô tả không khí não nề tại thung lũng silicon vào năm 2002, khi công ty được thành lập ngay trong giai đoạn suy thoái kinh tế. Khi bàn về cách thức công ty nhìn nhận thử thách như là cơ hội, Hoffman giải thích:

“Tôi có một niềm tin mãnh liệt rằng thành lập công ty ngay trong giai đoạn suy thoái kinh tế lại là một thời điểm tốt bởi nó đã mở đường cho chúng tôi. Việc gọi vốn trở nên khó khăn hơn, nhưng nếu làm được thì nó trở thành một lợi thế”.

Bên cạnh những khó khăn về kinh tế, concept của Linkedin cũng vấp phải thái độ phản đối. Khi Linkedin đi vào hoạt động vào năm 2003, Friendster mới chính là hình mẫu của mạng xã hội. Guericke kể lại về thái độ chung của công chúng đối với Linkedin vào thời điểm đó “Những người trong độ tuổi thanh thiếu niên cùng kết bạn và trao đổi hình ảnh trên mạng xã hội, đó là điều đương nhiên! Nhưng những chuyên gia trưởng thành cùng kết bạn với nhau qua mạng? Nghĩ gì “dễ thương” vậy trời. Rồi sẽ thất bại thôi”. Những người khác cũng cảm thấy Linkedin thiếu đi lợi thế của người dẫn đầu “Dù có thành công thì Friendster cũng sẽ bổ sung chức năng doanh nghiệp và các người sẽ sớm phá sản thôi”.

Chưa dừng lại ở đó, như đã đề cập ở trên, lượng người dùng đăng ký tăng khá chậm chạp trong giai đoạn đầu. Mặc cho những thử thách này, Linkedin tập trung cho sự tăng trưởng. Ủng hộ cách tiếp cận lâu dài của Linkedin, trong hội nghị growth hacker tại San Francisco vào năm 2012, nhà đồng sáng lập Allen Blue đã khuyên các công ty non trẻ không nên hoảng sợ và mất tập trung khi tăng trưởng ban đầu chậm hơn dự kiến. “Hãy trung thành với chiến lược của mình, trừ khi bạn có lý do rất thuyết phục để không làm như thế”.

2. Những yếu tố làm nên sự tăng trưởng của Linkedin.

Tập trung vào cộng đồng công nghệ

Cũng giống như các nền tảng kết nối khác (như Uber hay Grab), Linkedin đối mặt với bài toán “con gà và quả trứng” điển hình: làm thế nào để thu hút cả 2 bên: người dùng và bên cung cấp dịch vụ? (Nếu quá ít người dùng, bên cung cấp sẽ không tham gia vào nền tảng và ngược lại).
Phương pháp giúp Linkedin kéo được nhóm người dùng đầu tiên, chính là tập trung vào môi trường công nghệ tại Silicon Valley. Khi mới đi vào hoạt động, các nhà sáng lập sử dụng chính mối quan hệ của mình trong những công việc trước đây. “Chúng tôi bắt đầu khá chậm chạp bởi vì chúng tôi muốn đảm bảo rằng hệ thống này có thể hoạt động được. Tôi ước tính 13 người trong công ty đã mời được cả thảy 112 người khác”.

Hoffman chọn mời những người bạn và các cá nhân thành công bởi ông “nhận ra rằng việc xây dựng một thương hiệu đáng mơ ước là yêu cầu vô cùng quan trọng để thu hút một lượng người dùng lớn sau này”. Có được những người quyền lực nhất tại thung lũng Silicon trên Linkedin đã giúp gia tăng nhanh chóng mức độ hấp dẫn của mạng xã hội này, biến nó trở thành một yêu cầu bắt buộc đối với những người đang và sẽ làm việc tại thung lũng, mang trong mình khao khát được kết nối với các nhà đầu tư và tư vấn tiềm năng.

Khi ngày càng có nhiều thành viên trong cộng đồng công nghệ tham gia Linkedin, hiệu ứng mạng lưới bắt đầu phát huy hiệu quả, và Linkedin trở thành nơi để kết nối và tiếp cận với các nguồn lực. Việc giữ liên lạc với các mối quan hệ có sẵn cũng trở nên dễ dàng hơn. Trước khi có Linkedin, các tài năng khởi nghiệp trong thung lũng Silicon thường xuyên nhảy việc, và do đó họ mất liên lạc với nhau khi email và số điện thoại của họ thay đổi.

Xét về nhiều khía cạnh, Linkedin đã giải quyết được vấn đề “con gà và quả trứng” trong mạng xã hội bằng cách bắt đầu với một nhóm nhỏ ở thung lũng Silicon. Tương tự như thế, 5 năm sau Facebook đã hạn chế mạng lưới của mình chỉ trong một trường học, còn 10 năm sau, Uber bắt đầu hoạt động trong từng thành phố một.

Linkedin lan rộng bởi nó đã thành công trong việc tạo ra những trải nghiệm chất lượng cao, khiến người dùng không thể sống thiếu nó, từ đó gia tăng mức độ trung thành, người này truyền miệng người kia. Bằng việc thuyết phục những người thành công nhất tại thung lũng Silicon tham gia, Linkedin trở thành một mạng lưới bắt-buộc-phải-có của những người làm việc tại thung lũng.

Không dựa vào nguồn doanh thu duy nhất

Theo một số nguồn tin, Linkedin bắt đầu nỗ lực sản sinh lợi nhuận với quảng cáo Adbrite ads vào giữa năm 2004, nhưng thu về chẳng được là bao. Cho tới năm 2005, Linkedin mới khởi động 3 nguồn sinh lợi khác: đăng tin tuyển dụng (job listings), đăng ký dài hạn (subscription) và quảng cáo (advertisements). Công ty chính thức sinh lời vào năm 2006.

Hoffman khẳng định rằng ban đầu Linkedin không có ý định cân nhắc tới việc quảng cáo, nhưng rồi “có 2 thứ thuyết phục tôi dấn thân vào quảng cáo. Đầu tiên, người dùng của chúng tôi có thông tin nhân khẩu học rất tốt. Thứ hai, chúng tôi dần nhận ra rằng chúng tôi có thể xây dựng những sản phẩm độc đáo, tận dụng thế mạnh nhân khẩu học để có thêm những tính năng giá trị cho các nhóm người dùng”

Do đó, thay vì chỉ dựa vào doanh thu quảng cáo, Linkedin đã xây dựng các dòng doanh thu khác. Có một insight là, trong giới kinh doanh, trong phần lớn trường hợp, chúng ta phải làm việc với những người không quen biết. Vì thế, Linkedin tận dụng thế mạnh của mình – cung cấp dịch vụ đăng ký trả phí nhằm giúp việc kết nối giữa người với người được dễ dàng hơn, với chức năng kết nối và tìm kiếm được cải tiến.

Ở phiên bản miễn phí, người dùng chỉ có thể đăng ký tài khoản và sử dụng các chức năng cơ bản như kết nối với người dùng khác thông qua lời giới thiệu. Ở phiên bản trả phí, các gói dịch vụ đặc biệt với các chức năng nâng cao được cung cấp cho 4 đối tượng riêng biệt: doanh nghiệp (business), nhà tuyển dụng (recruiters), ứng viên đang tìm việc (job seekers) và những người làm trong ngành sales (sales professionals).

Tài khoản Linkedin Premium cho phép kết nối với những người ở bên ngoài mạng lưới của mình thông qua nhắn tin InMail. Gói Sales Professionals (dành cho ngành sales) cho phép tiếp cận hồ sơ đầy đủ của mọi người dùng ở tầng 1, 2 và 3 của mạng lưới. Các ứng viên đăng ký gói Job Seekers sẽ được ưu tiên hiển thị hồ sơ. Và gói Recruiters dành cho các nhà tuyển dụng sẽ có thêm tính năng workflow (chu trình làm việc) và chức năng tìm kiếm được thiết kế đặc biệt.

Đây là một hệ thống phân chia khá phức tạp nhưng giúp đảm bảo người dùng Linkedin luôn có được những giá trị phù hợp nhất với nhu cầu và mức phí mà họ sẵn sàng chi trả.

Tập trung phát huy điểm mạnh thay vì cải thiện điểm yếu

Tại hội nghị Growth Hacker vào năm 2012, đại diện của Linkedin – Elliot Shmukler đã có bài phát biểu về “những bài học khi phát triển Linkedin từ 13 lên 175 triệu người dùng”. Theo Shmukler, Linkedin đã nhận thấy rằng “tập trung vào điểm mạnh thì dễ hơn là cải thiện điểm yếu”. Trong 2 năm, lượt đăng kí từ nguồn email tăng từ 4% (25000) lên 7% (44000). Trong khi đó chỉ cần 4 tháng để lượt đăng ký trên nguồn trang chủ tăng từ 40% (50000) lên 50% (63000).

Chiếm tới 40% lượt đăng ký, trang chủ Linkedin rõ ràng là điểm mạnh của công ty, trong khi đó, những lời mời từ email rõ ràng là điểm yếu. Dữ liệu còn cho thấy những người chủ động ghé thăm Linkedin trung bình đạt 30 trang trong 1 phiên, trong khi đó con số của những người ghé thăm khi được mời chỉ là 10 trang trong 1 phiên. Họ kết luận rằng những lời mời ghé thăm thường không thu hút được những khách hàng chăm chỉ tương tác, và vì thế đây không phải là một kênh có thể mang lại thành công cho dù có bao nhiêu nỗ lực được dồn cho nó. Nói cách khác, những lời mời từ email không phải là thế mạnh có thể giúp Linkedin tăng trưởng.

Hiểu rằng trang chủ đang làm tốt việc thu hút những người dùng chủ động ghé thăm, đội ngũ Linkedin quyết định dồn gấp đôi nỗ lực cho nó, bằng việc loại bỏ các lỗi xung đột để cải thiện trải nghiệm người dùng. Trong vòng 4 tháng, lượt đăng ký từ trang chủ đã gần ngang ngửa lượt đăng ký từ email trong suốt 2 năm. Dĩ nhiên, dồn nỗ lực vào việc tăng gấp đôi lượt đăng ký từ email thì cũng được thôi, nhưng những con số này cho thấy: Khi mục tiêu là phát triển nhanh trong thời gian ngắn thì tập trung vào điểm mạnh sẽ mang lại một cơ hội tăng trưởng mạnh mẽ hơn nhiều.

Các email thông báo “Ai đã xem trang cá nhân của bạn” là một ví dụ khác cho thấy tầm quan trọng của việc tận dụng thế mạnh. Những email này có tỉ lệ bấm vào là 5% từ người dùng “lười tương tác”, và 20% từ người dùng “chăm chỉ tương tác”. Thay vì cố gắng thu hút người dùng lười tương tác, một lần nữa Linkedin lại lựa chọn cách tập trung vào thế mạnh của mình, cải thiện sức hấp dẫn của email đối với người dùng chăm tương tác bằng cách thử nghiệm các dòng chủ đề, nội dung và cách thức trình bày email. Shmukler tóm gọn concept phía sau Linkedin: “Thuyết phục người dùng chăm tương tác làm thêm nhiều thứ hơn luôn dễ dàng hơn là thuyết phục người dùng lười tương tác làm bất cứ thứ gì”.

Vòng lặp viral nhân đôi (Double viral loop)

(Để hiểu phần này, người đọc cần lưu ý rằng vào thời điểm Linkedin ra đời thì các chức năng vô cùng quen thuộc với chúng ta ngày nay như trang cá nhân, chức vụ, nghề nghiệp,… trên mạng xã hội là một điều xa lạ. Mọi người vẫn giữ thói quen lưu giữ thông tin liên lạc của nhau theo danh sách trong sổ địa chỉ).

Giá trị của người dùng chăm tương tác không chỉ nằm ở sự chăm chỉ tương tác của họ – họ còn đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích những người dùng khác tương tác trở lại, cũng như thu hút người dùng mới. Điều này khiến cho tính viral trở thành yếu tố chủ chốt trong sự tăng trưởng của Linkedin.

Đội ngũ Linkedin cố gắng tìm kiếm công thức kết hợp hoàn hảo giúp thu được nhiều nhất số người dùng mới từ các lời mời. Ví dụ, họ nhận thấy rằng 4 là con số “ma thuật” cho số lượng trường (Field) của email gửi lời mời – ít hơn khiến người nhận bỏ qua, còn nhiều hơn thì khiến họ cảm thấy choáng ngợp. Tương tự, những dòng “đáng vứt đi” ở cuối lời mời lại khuyến khích người dùng mới gửi nhiều lời mời hơn.

Phần lớn người dùng chỉ sở hữu duy nhất 1 kết nối – đồng nghĩa với việc họ đã nhận lời mời của ai đó, nhưng không chủ động kết nối hay mời thêm ai. Dưới 25% người dùng mới hoàn thành quá trình gõ email để mời người khác.

Lúc này, Linkedin bắt đầu áp dụng ý tưởng nhập liệu các thông tin liên lạc – một điều hiển nhiên ngày nay nhưng lại khá mới mẻ vào năm 2004. Vào thời điểm này, việc nhập email, password và cho phép website lục lại những thông tin liên hệ mà bạn có là một điều mới mẻ. Hơn nữa, hầu hết mọi người còn chẳng hề lưu lại các thông tin liên hệ trong webmail clients của mình

Để giải quyết vấn đề này, Linkedin đã xây dựng một plugin nhằm giúp người dùng tìm kiếm thông tin liên hệ ở trong Outlook. Mặc dù so với ngày nay thì quá trình này vẫn là quá tốn công sức, nhưng ở thời điểm đó đây là một bước tiến đáng kể so với việc nhập liệu bằng tay. 7% người dùng cập nhật sổ liên hệ của họ, và số lời mời được gửi đi tăng hơn 30%

Mặc dù tính viral của Linkedin đang tăng lên, nhưng hầu hết người dùng chỉ có 1 kết nối, và trung bình một người phải nhận được 3.2 email thì mới quyết định đăng ký sử dụng Linkedin. Lúc này, Linkedin quyết định tận dụng lượng thông tin dồi dào mà họ có được về chức vụ của người dùng.

Khi người dùng đăng ký tài khoản tại Linkedin, họ được hỏi về công ty và chức vụ hiện tại. Hơn 90% người dùng trả lời câu hỏi này. Thông tin này đã được sử dụng nhằm xây dựng một thứ mà Elman gọi là Dòng chảy tái kết nối (Reconnect Flow)

Với Dòng chảy tái kết nối, khi người dùng đăng ký, họ ngay lập tức được cung cấp danh sách tài khoản Linkedin của những người đồng nghiệp tại công ty, cùng với câu hỏi “Bạn biết những ai?”. Việc kết nối trở nên dễ dàng chỉ thông qua vài cú tick vào các ô trống.

Sau khi thành công với chức năng này, Linkedin tiếp tục bổ sung thêm 1 câu hỏi về nơi làm việc trước đây của người dùng. Một lần nữa, những người dùng mới lại được cung cấp danh sách tài khoản Linkedin của những đồng nghiệp từ công ty cũ.

Điều khiến cho Dòng chảy tái kết nối thực sự xuất sắc nằm ở chỗ nó không chỉ cho phép người dùng kết nối với nhau mà còn giúp họ xây dựng nên hồ sơ cá nhân bằng cách liệt kê những kinh nghiệm làm việc mà họ đã tích lũy. Hơn nữa, khi ngày càng có nhiều người tham gia và gửi lời mới kết nối, những người dùng ít tương tác sẽ được lôi kéo trở lại nền tảng.

Những nỗ lực này đã giúp tăng đáng kể tính viral của Linkedin. Lượt xem trang tăng 41%, lượt tìm kiếm tăng 33% và số vị trí công việc được liệt kê trên trang cá nhân tăng 38% và số lượt mời kết nối tăng 16%

Quá trình đã nói ở trên chính là cái mà Elman gọi là Vòng lặp Viral gấp đôi đang diễn ra với Linkedin. Người dùng mới mời thêm những người dùng mới khác, đồng thời tương tác với người dùng cũ. Đến lượt mình, người dùng cũ lại mời thêm những người dùng mới. Hai vòng viral diễn ra cùng một lúc – thật thiên tài làm sao.

Hiển thị trên thanh công cụ tìm kiếm

Vào năm 2006, Linkedin cho ra mắt chức năng hồ sơ công khai (public profiles) cùng thời điểm với chức năng Giới thiệu (Recommendations) và Những người bạn có thể biết (People You May Know). Hồ sơ công khai trở thành một trong những “bí kíp” tăng trưởng nổi danh nhất của Linkedin. Chính hồ sơ công khai đã giúp cho việc tìm kiếm tên người trên internet trở thành một điều bình thường ngày nay.

Hồ sơ công khai đã giúp tạo nên lượng traffic lớn cho Linkedin. Những hồ sơ xuất hiện trên trang kết quả tìm kiếm càng khiến nhiều người biết đến Linkedin. Hơn nữa, khi người dùng click vào các trang này từ kết quả tìm kiếm, họ cần phải đăng ký tài khoản trước khi có thể kết nối với người mà mình đang tìm.

Hồ sơ công khai còn khiến cho việc sở hữu một trang cá nhân trên Linkedin trở thành một điều đáng khao khát đối với những ai mong muốn được biết đến nhiều hơn. Đối với các lượt tìm kiếm theo tên, các trang cá nhân Linkedin luôn được Google ưu tiên hiển thị trên đầu trang kết quả. Vì vậy, ngoài việc kết nối bên trong Linkedin, người dùng còn có thể tiếp cận những người không sử dụng mạng xã hội này, nhờ vào chức năng tìm kiếm.

Linkedin đã phải đối mặt với những chỉ trích liên quan tới quyền riêng tư, do đó, công ty cho phép người dùng giấu hồ sơ của mình khỏi kết quả tìm kiếm của Google, hoặc hạn chế lượng thông tin mà những người chưa kết nối có thể xem.

3. Hướng phát triển của Linkedin ngày nay

Những thương vụ mua bán được tính toán cẩn thận

“Kế hoạch cải thiện cơ sở hạ tầng và tái thiết kế trang đã mang lại một tốc độ chưa từng có trong việc cải tiến và biến đổi sản phẩm. Ba concept chủ chốt bao gồm: đơn giản hóa, tăng trưởng, mỗi ngày”.

Hoạt động của Linkedin trong 2 năm vừa qua đã cho thấy đầy đủ 3 concept này. Tháng 2 năm 2012, LinkedIn mua lại plugin Rapportive từ Google với giá 15 triệu đô-la, cho phép người dùng kết nối danh bạ từ Google sang Linkedin và hiển thị những cập nhật mới nhất trên mạng xã hội này. Plugin này giúp tăng khả năng kết nối giữa Linkedin với email – một trong những công cụ làm việc quan trọng nhất hiện nay.

3 tháng sau, vào tháng 5/2012, Linkedin mua lại SlideShare (một nền tảng chia sẻ các nội dung như bài thuyết trình và tài liệu kinh doanh) với giá 119 triệu đô-la. Trong thông cáo báo chí về thương vụ, Jeff Weiner, CEO của LinkedIn nói:

“Các bài thuyết trình là một trong những phương thức chính mà các chuyên gia sử dụng để lưu trữ và chia sẻ những kinh nghiệm và kiến thức của họ, từ đó giúp họ khẳng định trình độ của bản thân… Những bài thuyết trình này còn cho phép các chuyên gia kết nối với nhau và thu nhận những kiến thức, thông tin giúp họ làm việc hiệu quả và thành công hơn trong sự nghiệp. Những điều này đều đúng với sứ mệnh của Linkedin và giúp chúng tôi cung cấp ngày càng nhiều giá trị cho người dùng”.

Với hơn 9 triệu bài thuyết trình và khoảng 29 triệu lượt truy cập mỗi tháng vào thời điểm được mua lại, SlideShare đã mang lại tăng trưởng thực sự cho Linkedin. Chưa đầy 1 năm sau, vào tháng 3 năm 2013, LinkedIn đã mua lại ứng dụng đọc tin tức Pulse với giá 90 triệu đô-la với mục tiêu trở thành “nền tảng chuẩn mực trong lĩnh vực xuất bản – nơi tất cả các chuyên gia có thể tiêu thụ nội dung từ các nhà xuất bản. Hàng triệu chuyên gia đã và đang bắt đầu một ngày mới bằng việc tiếp thu những thông tin, kiến thức từ Linkedin để ngày một xuất sắc hơn trong công việc của mình”.

Những thương vụ mua bán này cho thấy concept thức 3 được nhắc tới trong “Lược sử Linkedin” (A Brief History of Linkedin) đang được hoàn thiện mỗi ngày. Khi nhìn tổng thể, có thể thấy Rapportive, SlideShare và Pulse đều là một phần nỗ lực của LinkedIn trong việc phát triển vượt ra ngoài cái vỏ một website tuyển dụng và tìm kiếm việc làm.

Cung cấp nội dung chất lượng cao

Ra mắt vào năm 2011, LinkedIn Today là một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của concept “mỗi ngày”, cung cấp cho người dùng một cách thức gạn lọc bể thông tin khổng lồ, cập nhật những tin tức mới mà không phải ghé thăm quá nhiều website, blog, tweets và newsletters.

LinkedIn today hoạt động theo cơ chế lựa chọn các bài báo được chia sẻ bởi (1) đồng nghiệp và những người có kết nối với người dùng và (2) những người làm cùng ngành cũng như những bài báo thuộc các ngành khác đang thu được sự chú ý lớn. Bên cạnh đó, người dùng cũng được phép lựa chọn theo dõi các ngành khác ngành hiện tại của mình.

Một trong những hạn chế lớn nhất của LinkedIn Today nằm ở việc – nó chỉ đơn thuần là một nơi tổng hợp tin tức. Mặc dù mang lại sự tiện lợi lớn cho người dùng và khuyến khích họ tương tác, nhưng sự thật là không có một nội dung nào được sản xuất tại đây. Vì lý do này, Linkedin bắt đầu chương trình Người Ảnh Hưởng (Influencer Program) vào tháng 10 năm 2012. Ý tưởng hết sức đơn giản – lựa chọn những người tiên phong ảnh hưởng tới tư tưởng của những người khác và đề nghị họ sản xuất, chia sẻ độc quyền các nội dung này cho LinkedIn.

Những người ảnh hưởng như Richard Branson, Jack Welch và Arianna Huffington đóng vai trò nhà sản xuất content, và người dùng có thể theo dõi họ mà không cần kết nối với nhau. Các bài báo này cũng có thể được đọc, yêu thích, chia sẻ và bình luận như những bài báo bình thường khác trên LinkedIn Today.

Vấn đề mấu chốt ở đây đó là chương trình Influencer Program không chỉ có lợi cho LinkedIn mà còn có lợi cho chính những người tham gia chương trình này. Đó là lý do họ luôn sẵn sàng dành khoảng thời gian hạn hẹp của mình để sản xuất các nội dung cho nền tảng này. Shah (tác giả cuốn Inbound Marketing và điều hành cơ sở inbound marketing hàng đầu Hubspot) chia sẻ rằng trong khi các bài viết trên blog cá nhân của ông chỉ đạt khoảng 5000 cho tới 10000 view thì con số này đối với các bài viết trên LinkedIn là 123000.

Tập trung nỗ lực cho thiết bị di động

Hiểu rằng thiết bị di động sẽ trở thành động lực phát triển, LinkedIn đã nỗ lực thích nghi thông qua hàng loạt các ứng dụng, website trên nền tảng di động và các sản phẩm được thiết kế cho trải nghiệm của người dùng di động.

Vào đầu năm 2008, LinkedIn cho ra mắt website được tối ưu hóa cho Iphone tại địa chỉ m.linkedin.com. Với các phiên bản quốc tế bằng tiếng Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Nhật Bản và Trung Quốc, trang beta này bao gồm các chức năng cơ bản của LinkedIn như tim kiếm hồ sơ (profile search), tìm kiếm danh bạ (contact search), gửi lời mời (Invitations) và cập nhật mạng lưới (Network Updates), hứa hẹn mang lại những chức năng mở rộng như LinkedIn Answer và LinkedIn Experts trong tương lai.

Năm 2011, công ty cải tiến trải nghiệm người dùng trên ứng dụng cho cả thiết bị Apple và Android, cùng với đó là một website HTML5 mới. Theo LinkedIn blog, “số lượt xem LinkedIn Mobile đã tăng hơn 400% qua các năm, khiến nó trở thành phần dịch vụ phát triển nhanh nhất tại LinkedIn”.

Tháng 10 năm 2013, LinkedIn cho ra mắt ứng dụng mới với tên LinkedIn Intro, cho phép người dùng nhìn thấy hồ sơ LinkedIn ngay trong ứng dụng Apple Mail.Chẳng hạn, khi một người dùng nhận được email từ một người nào đó không quen biết, họ sẽ nhìn thấy không chỉ một địa chỉ email xa lạ mà con có thể xem trước một đoạn trích thông tin trên LinkedIn của người gửi email (ảnh đại diện, công ty và chức vụ). Ấn vào đoạn trích này và những thông tin khác sẽ được hé lộ, bao gồm địa điểm, học vấn, những người cùng quen biết, công việc hiện tại và trong quá khứ và cả khả năng kết nối trên LinkedIn.

Tạm kết

Câu chuyện tăng trưởng của LinkedIn rất đáng để học hỏi. Chúng ta có cơ hội xem xét một công ty vô cùng thành công từ những bước khởi đầu cho tới khi ra mắt sản phẩm tới toàn bộ công chúng. Rõ ràng rằng LinkedIn thấu hiểu và trân trọng sự tăng trưởng dù lớn dù nhỏ, cùng với đó là tinh thần luôn sẵn sàng thử nghiệm các chiến thuật tăng trưởng khác nhau để khám phá điều gì thực sự mang lại giá trị cho càng nhiều người dùng càng tốt.

Với sự tăng trưởng trong nền tảng di động, các thương vụ mua bán và sản xuất nội dung, mặc dù đã tiến xa so với sứ mệnh ban đầu của mình, LinkedIn vẫn trung thành vẹn nguyên với việc cung cấp những trải nghiệm có giá trị – một điều không hề dễ dàng đạt được một chút nào. Trên bước đường phát triển, nhu cầu tìm kiếm những thế mạnh mới sẽ tiếp tục thúc đẩy họ sáng tạo, sáp nhập và suy ngẫm về cách thức người dùng sử dụng LinkedIn. Khi ngày càng có nhiều người ở độ tuổi Millennials gia nhập lực lượng lao động (những người ưu tiên thiết bị di động trên hết), LinkedIn sẽ đối mặt với thách thức đáp ứng nhu cầu của lực lượng lao động thay đổi để tiếp tục tăng trưởng và đi cùng thời đại.

Hãy đến với khóa học Marketing Foundation của Tomorrow Marketers để hiểu thêm về vai trò của marketing trong phát triển dài hạn của doanh nghiệp nhé!

 

 

Content Protection by DMCA.com



Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!