Tổng quan thị trường Fintech tại Việt Nam

2138

Tomorrow Marketers – Fintech đã và đang thu hút được sự chú ý của nhiều chuyên gia công nghệ, tài chính và giới đầu tư trên thế giới. Theo báo cáo Pulse of Fintech của KPMG tổng lượng đầu tư vào Fintech trong năm 2018 đạt mức 111,8 tỷ USD trong năm 2018, tăng 120% so với năm 2017 (50,8 tỷ USD). Con số trên đã thể hiện sự phát triển mạnh mẽ và toàn diện của thị trường Fintech. Việt Nam những năm trở lại đây cũng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của thị trường này.

1. Tổng quan thị trường

Theo nghiên cứu của công ty tư vấn Solidiance, thị trường Fintech Việt Nam trị giá 4,4 tỷ USD tính tới năm 2017 và được dự đoán sẽ đạt 7,8 tỷ USD vào năm 2020, tương đương với mức tăng 77% trong vòng ba năm. Sự phát triển của Fintech tại Việt Nam đang tăng trưởng mạnh mẽ, thu hút 117 triệu USD vốn khởi nghiệp, vượt qua thị trường E-commerce đang ở mức 104 triệu USD và các lĩnh vực khác khiến Fintech trở thành lĩnh vực được tài trợ nhiều nhất cho giới khởi nghiệp năm 2018.

Tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2019, Việt Nam đứng thứ hai trong khu vực ASEAN về số vốn được tài trợ cho thị trường Fintech, thu hút 36% đầu tư của khu vực vào năm 2019, chỉ đứng sau Singapore (51%), theo báo cáo “FinTech in ASEAN: From Start-up to Scale-up 2019’’ của PricewaterhouseCoopers (PWC), United Overseas Bank (UOB) và Hiệp hội Fintech Singapore.

Trong năm 2019 thị trường Fintech Việt Nam đạt được sự tăng trưởng mạnh mẽ về tài trợ là nhờ vào hai deal lớn dành cho công ty thanh toán VNPay (300 triệu USD) và vòng gọi vốn series C của MoMo Pay (500 triệu USD). Hai deal này là lần lượt là deal lớn thứ ba và lớn nhất trong khu vực. 

Sự đầu tư vào các công ty Fintech của Việt Nam gia tăng nói chung và phân khúc thanh toán nói riêng là do tiềm năng kinh doanh trên thị trường lớn và số lượng lớn dân số chưa có tài khoản ngân hàng, cũng như tỉ lệ sử dụng internet và điện thoại di động gia tăng.

2. Tổng quan các công ty trên thị trường Fintech

Hệ sinh thái khởi nghiệp Fintech Việt Nam hiện có khoảng 154 công ty đang hoạt động được chia thành các phân khúc chính: thanh toán điện tử (payment), ngân hàng số (digital banking), wealth management, peer to peer lending (P2P lending), blockchain/cryptocurrency, gọi vốn cộng đồng (crowdfunding), đánh giá điểm tín dụng (credit scoring), SMEs Financing, Comparison, POS và Insurtech.

Nguồn: Fintechnews.sg

Thanh toán điện tử (payment)

Thanh toán điện tử là một mô hình giao dịch không sử dụng tiền mặt, các giao dịch được thực hiện trong môi trường internet, người sử dụng có thể thực hiện các hoạt động thanh toán, chuyển, nạp hay rút tiền,… 

Thông thường, thanh toán điện tử được thực hiện qua các cổng thanh toán trực tuyến (giữ vai trò trung gian thực hiện các giao dịch lưu chuyển tiền tệ trực tuyến, có sự liên kết với các ngân hàng thương mại) hoặc các tài khoản ngân hàng trực tuyến của người dùng.

Xu hướng thanh toán không dùng tiền mặt đang bùng nổ ở Việt Nam, tăng gấp đôi trong ba quý đầu năm 2018. Đặc biệt, thanh toán qua dịch vụ ngân hàng trên thiết bị di động đã tăng lên 144% mỗi năm trong vòng năm năm qua. Giao dịch trên các ứng dụng di động và ví điện tử tăng lần lượt ấn tượng 126% và 161%. Một báo cáo được công bố vào cuối năm 2018 bởi Allied Market Research ước tính rằng thị trường thanh toán di động Việt Nam có thể đạt 70,937 triệu USD vào năm 2025. 

Fintech tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào phân khúc thanh toán với 47% công ty trên thị trường làm về dịch vụ thanh toán, chiếm tỷ lệ cao nhất trong khu vực. Phân khúc thanh toán thu hút được nhiều nhà đầu tư là quy luật chung của các nước có thị trường Fintech phát triển ở giai đoạn đầu. Các công ty trong phân khúc này đã chiếm 98% tổng số tiền tài trợ cho thị trường Fintech tại Việt Nam vào năm 2019. Hiện có 35 startup và nền tảng trên thị trường, đứng đầu là MoMo. 

Một số các công ty nổi bật trong phân khúc thanh toán bao gồm:

  • MoMo: là ví điện tử cho phép người dùng thanh toán trực tuyến và thực hiện chuyển khoản ngang hàng (P2P), thuộc sở hữu của công ty M_Service. Tính đến tháng 10 năm 2018, MoMo đã có gần 10 triệu người dùng trên cả iOS và Android và lọt vào danh sách Fintech100: The world’s leading fintech innovators của H2 Ventures và KPMG năm 2018. MoMo có ba nhà đầu tư Goldman Sachs và Standard Chartered Bank và công ty cổ phần tư nhân Mỹ Warburg Pincus. Theo báo cáo của Ernst & Young (EY) MoMo gần đây đã nhận được khoản đầu tư 33,75 triệu USD từ Goldman Sachs và Standard Chartered Bank và 100 triệu USD từ Warburg Pincus. 
  • GrabPay by Moca: ví điện tử của Grab sau khi hợp tác với Moca để phát triển dựa trên nền tảng dịch vụ thanh toán điện tử của Moca. Moca đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) cấp giấy phép cho dịch vụ thanh toán vào năm 2016 và có mạng lưới 11 ngân hàng địa phương là đối tác. Năm 2018 Grab Việt Nam trở thành cổ đông của Moca khi mua lại cổ phần từ quỹ Access Venture SPV – một quỹ đầu tư của Hong Kong.
  • Airpay: ví điện tử do công ty Cổ phần AirPay phát triển, cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Đây là một trong những sản phẩm nằm trong hệ sinh thái đồng hành với Garena, Ocha, Foody, Now Delivery và Shopee.
  • VinID Pay: ví điện tử cho phép người dùng tích điểm, tiêu điểm trong hệ sinh thái Vingroup, thanh toán bằng cách quét mã QR (VinID Scan&Go), mua vé các sự kiện thể thao, giải trí thông qua cổng giao dịch của VinID Ticket.
  • Zalo Pay: thuộc sở hữu của công ty ZION, ví điện tử cung cấp dịch vụ thanh toán tích hợp với nền tảng nhắn tin phổ biến của Việt Nam, Zalo cho phép người dùng liên kết thẻ thanh toán để thanh toán P2P, thanh toán qua NFC, mã QR, cũng như mua sản phẩm, dịch vụ trực tuyến, nạp tiền di động và trả tiền cho tiện ích của app.
  • VNPay QR: là cổng thanh toán cho phép khách hàng sử dụng tính năng QR Pay được tích hợp sẵn trong app Internet banking của các ngân hàng trên điện thoại di động và quét mã để thanh toán, do Công ty Cổ phần Giải pháp Thanh toán Việt Nam phát triển. Với mô hình này, VNPay ngay lập tức sở hữu được tệp user sẵn có của 30 app ngân hàng và 6 ví điện tử. Năm 2019, công ty này đã gọi vốn được 300 triệu USD từ quỹ Vision Fund của SoftBank và quỹ đầu tư GIC của chính phủ Singapore. 

P2P lending (peer-to-peer lending)

P2P lending hay cho vay ngang hàng cho phép các cá nhân và doanh nghiệp cho nhau vay và mượn tiền. Với cấu trúc hiệu quả, các công ty Fintech cho vay P2P có thể đưa ra mức lãi suất thấp và cải thiện quy trình cho vay giữa người cho và người vay. Một khác biệt nhỏ nhưng cũng quan trọng so với một ngân hàng là những fintech này về mặt kỹ thuật không liên quan đến việc cho vay, mà chỉ đơn giản là kết nối giữa người cho vay với người cần vay và thu phí của người dùng. Đây là phân khúc Fintech lớn thứ hai tại Việt Nam với hơn 20 công ty khởi nghiệp. Những công ty nổi bật trong phân khúc này bao gồm:

  • Tima: công ty tài chính tiêu dùng và nền tảng cho vay ngang hàng (P2P lending). Công ty này đã ký kết hợp tác với các tổ chức tài chính như ngân hàng Vietinbank và ngân hàng Đông Á, và tuyên bố đã giải ngân khoảng 1,7 tỷ USD khoản vay cho 2,8 triệu người và có hơn 30.000 người cho vay trên nền tảng của mình. Tima tuyên bố đã huy động được vòng gọi vốn Series B trị giá 3 triệu USD vào tháng 10 với mức định giá gần 20 triệu USD và gần đây đã bắt đầu quá trình huy động vòng gọi vốn Series C.
  • Vay Muon: Công ty Cổ phần Vay Mượn – Vaymuon.vn lần đầu ra mắt vào cuối năm 2017. Đến nay VayMuon.vn là một trong những nền tảng cho vay ngang hàng (peer-to-peer lending platform) hàng đầu tại Việt Nam, kết nối hơn 2 triệu lượt khách hàng với gần 400 nghìn nhà đầu tư và tăng trưởng trên 20% mỗi tháng. Vaymuon.vn đã nhận vốn đầu tư hạt giống đến từ tập đoàn NextTech, nhà đầu tư chiến lược hiện đang chiếm 20% cổ phần startup. Năm 2019 công ty gọi vốn Series A từ 5 đến 10 triệu USD để tiến ra thị trường nước ngoài.

Ngân hàng số (digital banking)

Digital Banking hay ngân hàng số là ngân hàng có thể thực hiện hầu hết các giao dịch ngân hàng bằng hình thức trực tuyến thông qua Internet. Giao dịch của ngân hàng số không phải đến chi nhánh ngân hàng và giảm thiểu đến mức tối đa những thủ tục giấy tờ liên quan. Đồng thời tính năng của ngân hàng số có thể thực hiện mọi lúc mọi nơi không phụ thuộc vào thời gian, không gian nên khách hàng hoàn toàn chủ động. Phân khúc này có 5 công ty khởi nghiệp, nổi bật là

  • Timo: Ngân hàng kỹ thuật số được phát triển trên nền tảng sử dụng đường truyền internet để hoạt động thông qua 2 kênh là ứng dụng Mobile Banking và Internet Banking. Timo được đảm bảo và đồng phát triển bởi ngân hàng VPBank.

Wealth management

Một trong những mô hình kinh doanh fintech quản lý tài sản, phổ biến là các nhà quản lý tài sản tự động (robo-advisors), đưa ra tư vấn về các vấn về đầu tư vào sản phẩm tài chính. Chúng hoạt động bằng cách sử dụng thuật toán để gợi ý một tập hợp các tài sản để đầu tư dựa trên sở thích và phong cách đầu tư của khách hàng. Mô hình kinh doanh này mang lại lợi ích từ việc thay đổi nhân khẩu học và hành vi người tiêu dùng yêu thích chiến lược đầu tư tự động và thụ động, cấu trúc phí đơn giản và minh bạch, và tính kinh tế hấp dẫn cho phép mức đầu tư thấp tối thiểu hoặc gần như không có. Phân khúc này gồm 9 công ty, nổi bật như:

  • Money lover: ứng dụng quản lý tài chính cá nhân do Finsify công ty quản lý. Ứng dụng này áp dụng mô hình Freemium. Người dùng sẽ được sử dụng ứng dụng này với những tính năng cơ bản nhất. Sau đó, bạn sẽ trả tiền nếu muốn sử dụng phiên bản với những tính năng nâng cao hơn nếu có nhu cầu.

Gọi vốn cộng đồng (crowdfunding)

Huy động vốn từ cộng đồng bao gồm ba bên: (1) người khởi xướng dự án hoặc doanh nhân cần tài trợ, (2) những người đóng góp có thể quan tâm hỗ trợ mục tiêu hoặc dự án và (3) tổ chức điều phối tạo điều kiện cho sự tham gia giữa những người đóng góp và người khởi xướng. Tổ chức điều phối cho phép những người đóng góp truy cập thông tin về các sáng kiến và cơ hội tài trợ khác nhau để phát triển sản phẩm/ dịch vụ. Phân khúc này gồm 6 công ty, chiếm khoảng 10,5% thị phần của thị trường Fintech.

Đánh giá điểm tín dụng (credit scoring) 

Điểm tín nhiệm có thể được dùng trong lĩnh vực tài chính. Chẳng hạn nó sẽ là căn cứ để các tổ chức tài chính cho người tiêu dùng vay các khoản vay, và là căn cứ để xác định lãi suất. Phân khúc này có 6 công ty, trong đó nổi bật là: 

  • Trusting Social: công ty khởi nghiệp Việt Nam chuyên đánh giá điểm tín dụng, đã kiếm được khoảng 25 triệu USD từ giai đoạn ươm mầm và Series A. Đây là một trong những số tiền đầu tư lớn nhất trong khu vực ở giai đoạn ban đầu trong năm nay, đến từ các nhà đầu tư như Sequoia Capital, 500 Startups và BeeNext. Trusting Social sử dụng các nguồn dữ liệu thay thế để đánh giá mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng. Nền tảng AVAY của Trusting Social cho phép người tiêu dùng nhận được phê duyệt tín dụng ngay lập tức từ các công ty cho vay tiêu dùng và ngân hàng. Nền tảng này đã phục vụ 1,1 triệu người dùng cho đến nay.

Blockchain/Crypto

Phân khúc Blockchain/Crypto với 17 startup. Đây là một lĩnh vực khác đã chứng kiến ​​các giao dịch đáng kể trong những năm gần đây. Kể từ khi Bitcoin Việt Nam ra mắt vào năm 2014, một số công ty đã nổi lên để tham gia vào blockchain và tiền điện tử điên cuồng. Các công ty đáng chú ý bao gồm:  

  • TomoChain: một giải pháp sáng tạo cho vấn đề mở rộng của Ethereum blockchain cũng như những nền tảng blockchain hiện tại. Công ty khởi nghiệp này đã huy động được 8,5 triệu USD trong đợt chào bán tiền xu ban đầu (ICO) vào năm ngoái và được hỗ trợ bởi một số công ty đầu tư nổi tiếng như Signum Capital, Connect Capital và 1KX.
  • Kyber Network (KNC): một nền tảng giao dịch phân cấp mới đáng tin cậy, cho phép giao dịch gần như ngay lập tức và chuyển đổi giữa bất kỳ tài sản kỹ thuật số nào với nhau. Kyber Network bắt đầu tiến hành ICO vào ngày 22/9/2017 tại Singapore, chỉ sau vài giờ đồng hồ dự án này đã huy động được 200.000 ETH tương đương với khoảng 52 triệu USD (khoảng 1.200 tỷ VNĐ), biến Kyber Network trở thành thương vụ gọi vốn lớn nhất trong lịch sử startup của Việt Nam và ngang hàng với 10 công ty khởi nghiệp hàng đầu thế giới về số tiền được huy động năm 2017.

POS 

POS – Point Of Sales (điểm bán hàng), là các điểm phân phối hàng hoá (bán lẻ) được các cửa hàng sử dụng để quản lý việc bán hàng. POS ghi nhận lại các giao dịch mua bán, phản ánh lượng hàng hóa và tiền mặt ra vào trong một khoảng thời gian nhất định, giúp các chủ cửa hàng quản lý chặt chẽ hàng hóa, doanh thu và hỗ trợ khách hàng thanh toán nhanh gọn.

Các công ty trong phân khúc này phát triển các sản phẩm máy tính tiền, phần mềm POS truyền thống – cài đặt trên PC, phần mềm POS trực tuyến (cloud-based POS). Có 10 công ty trong phân khúc này, nổi bật như bePOS startup cung cấp hệ thống POS.

Comparison

Các công ty startup hoạt động trong phân khúc này cung cấp so sánh, báo giá, hỗ trợ trực tuyến các dịch vụ như mua bảo hiểm, vay ngân hàng, đôi khi còn gọi là công cụ phân tích giá, shopbot hoặc công cụ mua sắm so sánh, là một công cụ tìm kiếm dọc mà người mua hàng sử dụng để lọc và so sánh các sản phẩm dựa trên giá cả, tính năng, đánh giá và các tiêu chí khác. Hầu hết các trang web so sánh tổng hợp danh sách sản phẩm từ nhiều nhà bán lẻ khác nhau nhưng không trực tiếp bán sản phẩm, thay vào đó kiếm tiền từ các thỏa thuận tiếp thị liên kết. Phân khúc này gồm 6 công ty, nổi bật với công ty ebaohiem.

Insurtech

Insurtech tạo ra một mối quan hệ trực tiếp hơn giữa công ty bảo hiểm và khách hàng. Họ sử dụng phân tích dữ liệu để tính toán và đối chiếu các rủi ro và vì nhóm khách hàng tiềm năng mở rộng, khách hàng được cung cấp sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của họ (ví dụ: bảo hiểm xe hơi, nhân thọ, y tế và trách nhiệm). Họ cũng tăng cường hiệu quả với các quy trình thanh toán chăm sóc sức khỏe. Mô hình kinh doanh fintech bảo hiểm dường như được các đơn vị bảo hiểm truyền thống chấp nhận dễ dàng nhất. Công nghệ này cho phép các công ty bảo hiểm mở rộng việc thu thập dữ liệu của họ sang các nguồn phi truyền thống để bổ sung cho các mô hình truyền thống, cải thiện việc phân tích rủi ro của họ. Phân khúc này gồm 4 công ty bao gồm Papaya, Inso, Opes và Wicare.

3. Cơ hội đối với thị trường Fintech

Thị trường tiềm năng

Số lượng giao dịch phi tiền mặt tại Việt Nam là thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á. Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới, tỉ lệ giao dịch phi tiền mặt tại Việt Nam là 4,9%, thấp hơn rất nhiều so với Thái Lan là 59,7%, Malaysia là 89% và Trung Quốc là 26,1%. Có thể thấy Việt Nam là một thị trường còn rất nhiều tiềm năng có thể khai thác. 

Với tỷ lệ người dùng smartphone cao đạt mức 72%, kèm theo xu hướng ngành E-commerce đang phát triển nhanh chóng, thị trường fintech sẽ còn phát triển sôi động trong thời gian tới. 

Các chính sách hỗ trợ

Vào tháng 1 năm 2017, Chính phủ Việt Nam đã dự kiến sẽ giảm đáng kể các giao dịch tiền mặt và cải thiện phương thức thanh toán điện tử vào năm 2020. Theo kế hoạch, đến năm 2020, tổng giao dịch tiền mặt sẽ chiếm ít hơn 10% tổng giao dịch trên thị trường; tất cả các siêu thị, trung tâm mua sắm và nhà phân phối phải chấp nhận thẻ tín dụng; 70% các nhà cung cấp dịch vụ nước, điện tử và viễn thông phải chấp nhận thanh toán phi tiền mặt từ các hộ gia đình và cá nhân và 50% tổng số hộ gia đình ở thành thị sẽ sử dụng các phương thức thanh toán điện tử đối với các giao dịch hàng ngày.

Năm 2016, chính phủ đã thành lập Cơ quan Phát triển Thương mại và Kinh doanh Công nghệ Quốc gia (NATEC). NATEC là một nền tảng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ nhằm cung cấp đào tạo, cố vấn, ươm tạo doanh nghiệp và hỗ trợ tài chính cho các công ty khởi nghiệp công nghệ mới.

Chính phủ Việt Nam cũng có các chương trình thuế đặc biệt cho khởi nghiệp trong những điều kiện nhất định. Nó sẽ cung cấp giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các công ty làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao hoặc trong khu công nghệ cao. Thuế suất ưu đãi là 10% trong 15 năm hoặc 17% trong 10 năm, trái ngược với mức thuế suất thông thường là 20%.

Do thiếu lực lượng lao động tài năng để làm việc trong các công ty công nghệ cao , chính phủ Việt Nam hiện đang tập trung vào giáo dục STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học) bằng cách tổ chức giáo dục STEM trong các chương trình giảng dạy ngoại khóa ở các trường phổ thông. Các trường đại học hàng đầu đã bắt đầu đào tạo về khoa học dữ liệu, do đó, tình trạng thiếu lao động trong lĩnh vực này dự kiến ​​sẽ giảm bớt trong ba năm.

Ngoài ra còn có một số chương trình Tăng tốc khởi nghiệp (accelerator programme) trong nước hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Chẳng hạn, Công ty Vietnam Innovative Start-up Accelerator (VIISA) đã đầu tư 6 triệu USD vào các công ty khởi nghiệp để giúp xây dựng các công ty toàn cầu tại Việt Nam. Sự hỗ trợ về thể chế dành cho các công ty khởi nghiệp đã dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của nhiều công ty Fintech trong nước. Từ đó thu hút được các khoản đầu tư từ khắp nơi trên thế giới đổ vào các công ty Fintech của Việt Nam.

4. Thách thức đối với thị trường Fintech

Thách thức về pháp lý

Thách thức lớn nhất có lẽ là hành lang pháp lý mới cho sáng tạo và phát triển của Fintech cho phát triển của ngân hàng số cũng như hợp tác phát triển giữa ngân hàng và Fintech khi chia sẻ thông tin khách hàng, chia sẻ rủi ro, trách nhiệm giữa các bên với khách hàng trong mô hình kinh tế chia sẻ này; các mô hình kinh doanh mới được số hóa mạnh mẽ và giao dịch qua môi trường mạng không giới hạn về không gian và thời gian sẽ là thách thức lớn cho cơ quan quản lý về thuế, về bảo vệ người tiêu dùng trước những rủi ro ngày một tinh vi hơn. Bên cạnh đó mô hình cho vay P2P lending hiện tại cũng chứa đựng rủi ro lớn do chưa có khung pháp lý bảo vệ. Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa công bố dự thảo quy định quản lý hoạt động này.

Hạn chế về tự do phát triển

Khó khăn của các công ty trong phân khúc thanh toán điện tử đến từ việc cơ quan quản lý đang coi Fintech giống như một cánh tay nối dài của ngân hàng mà chưa được hoạt động độc lập như một “cá thể” trong hệ thống tài chính. Các ví điện tử chỉ có thể được sử dụng nếu kết nối với các tài khoản ngân hàng sẵn có của người dùng. Bên cạnh đó là khó khăn trong việc mở rộng thị phần do thói quen dùng tiền mặt của người dùng. 

Thiếu nhân lực

Theo kết quả điều tra của Viện Nhân lực Ngân hàng (Vietnambanker) nhân lực có kỹ năng chuyên môn về tài chính ngân hàng chiếm số lượng rất lớn (trên 90%) nhưng kỹ năng về IT rất kém, và kỹ năng về ngoại ngữ nhất là tiếng Anh cũng không thành thạo. Các kỹ sư công nghệ thường giỏi về IT thì kỹ năng về tài chính không cao, nên việc lập trình ứng dụng gặp nhiều khó khăn trong quá trình lập trình. Nhân lực quản trị cấp cao thường có nhiều chuyên môn về tài chính nhưng khả năng hiểu biết về IT rất ít, nên đấu thầu mua các phần mềm quản trị cũng diễn ra những khó khăn, tốn kém. Thực tế đã có những ngân hàng lãng phí hàng triệu USD mua phần mềm quản trị rủi ro nhưng lại không sử dụng được.

5. Xu hướng phát triển của thị trường Fintech

Lĩnh vực fintech có tiềm năng tăng trưởng rất cao tại Việt Nam và sẽ tiếp tục thu hút nhiều nguồn tài trợ, đặc biệt là từ các quỹ đầu tư mạo hiểm. Thanh toán kỹ thuật số là phân khúc hàng đầu hiện nay. Cho vay P2P là phân khúc được đầu tư lớn thứ hai theo báo cáo của CB Insights về thị trường Fintech Việt Nam và các lĩnh vực Fintech khác như đánh giá điểm tín dụng, wealth management và tài chính cá nhân đang trong giai đoạn phát triển, có tiềm năng phát triển cao.

Nguồn: Fintechnews.sg

Sáp nhập và mua lại (M&A) có thể là xu hướng trong tương lai của fintech tại Việt Nam. Hầu hết các hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đang bị đánh giá là đã trở nên lỗi thời. Do đó, việc mua lại một công ty Fintech có thể làm tăng tính kỹ thuật số của ngân hàng và giảm thiểu chi phí trong việc phát triển công nghệ mới. Các ngân hàng địa phương lớn đã tham gia vào thị trường Fintech do thấy được lợi ích của nó. Theo báo cáo điều tra thị trường Fintech của EY ASEAN, 59% ngân hàng được khảo sát đã dự trù ngân sách để đầu tư thêm 10% vào công nghệ vào năm 2018 và 44% trong số đó có kế hoạch mua công nghệ mới từ bên thứ ba, trong khi 17% quan tâm đến việc mua lại một công ty Fintech để sở hữu công nghệ. Với dự báo tốc độ tăng trưởng kép hàng năm là 31,2-35,9% từ năm 2017 đến năm 2025, nhiều ngân hàng sẽ tìm cách xây dựng các sản phẩm Fintech của riêng họ và nhiều thương vụ Fintech M&A có thể xuất hiện trong tương lai gần.


Khoá học Marketing Foundation trang bị tư duy Marketing bài bản cho người mới bắt đầu. 

 

 




error: Content is protected !!